Chương trình song ngữ là chương trình trong đó một phần nội dung được giảng dạy bằng ngoại ngữ. Quốc tế hoá là quá trình đưa yếu tố quốc tế vào chương trình, đội ngũ, quan hệ đối tác và cách vận hành của nhà trường.
Hai khái niệm này thường bị dùng thay cho nhau, và sự nhầm lẫn đó dẫn tới những quyết định tốn kém: nhà trường mở chương trình dạy bằng ngoại ngữ rồi tưởng rằng mình đã quốc tế hoá.
Bài viết này phân biệt rõ hai thứ, và chỉ ra quan hệ thực sự giữa chúng.
Ngôn ngữ là phương tiện, không phải nội dung
Điểm phân biệt cốt lõi nằm ở đây.
Một học phần được dịch sang tiếng Anh và giảng bằng tiếng Anh vẫn có thể giữ nguyên nội dung cũ, phương pháp cũ, tài liệu cũ, và góc nhìn cũ. Người học nghe bằng ngôn ngữ khác nhưng học đúng những gì đã học trước đây.
Quốc tế hoá chương trình thì khác. Nó đòi hỏi rà soát nội dung: có tham chiếu chuẩn quốc tế không, có đưa vào các góc nhìn từ nhiều hệ thống không, chuẩn đầu ra có so sánh được với chương trình nước ngoài không, tài liệu có cập nhật theo nguồn quốc tế không.
Nói cách khác, chuyển ngôn ngữ là điều kiện thuận lợi cho quốc tế hoá, nhưng không phải là quốc tế hoá.
Cần nói thêm cho công bằng: một chương trình song ngữ được thiết kế tốt vẫn tạo ra giá trị thật, ngay cả khi nội dung chưa đổi. Người học nâng được năng lực ngôn ngữ chuyên ngành, và đó là điều kiện để họ tiếp cận tài liệu quốc tế về sau.
Ba mức của chương trình song ngữ
Trong thực tế, các chương trình được gọi là song ngữ nằm ở ba mức rất khác nhau.
Mức một: dạy ngoại ngữ tăng cường. Tăng số giờ học ngoại ngữ, nhưng các môn chuyên ngành vẫn dạy hoàn toàn bằng tiếng mẹ đẻ. Đây thực chất chưa phải song ngữ theo nghĩa chuyên môn.
Mức hai: một số học phần dạy bằng ngoại ngữ. Thường bắt đầu từ những môn ít phụ thuộc bối cảnh địa phương. Đây là mức phổ biến nhất và cũng là điểm khởi đầu hợp lý.
Mức ba: phần lớn chương trình dạy bằng ngoại ngữ. Đòi hỏi đội ngũ đủ năng lực, tài liệu đầy đủ, và người học đạt ngưỡng ngôn ngữ đủ cao.
Nhà trường nên nói rõ mình đang ở mức nào khi công bố với người học và phụ huynh. Việc gọi mức một là chương trình song ngữ tạo ra kỳ vọng sai và là nguồn khiếu nại về sau.
Điều kiện để chương trình song ngữ hoạt động thật
Bốn điều kiện dưới đây quyết định chương trình tạo ra giá trị hay chỉ tạo ra hình thức.
Điều kiện thứ nhất: đội ngũ giảng dạy. Giảng viên phải vừa vững chuyên môn vừa giảng dạy được bằng ngoại ngữ. Đây là ràng buộc thu hẹp đáng kể danh sách người đủ điều kiện, và là lý do phần lớn chương trình bắt đầu từ vài học phần thay vì toàn bộ.
Cần phân biệt khả năng giao tiếp với khả năng giảng dạy. Giảng dạy đòi hỏi giải thích khái niệm khó, trả lời câu hỏi ngoài kịch bản, và điều hành thảo luận.
Điều kiện thứ hai: năng lực người học. Nếu người học chưa đủ ngôn ngữ, họ sẽ vừa không hiểu bài vừa không nâng được ngôn ngữ. Cần có ngưỡng đầu vào và phương án hỗ trợ trong quá trình học.
Điều kiện thứ ba: tài liệu. Giáo trình, tài liệu tham khảo, đề thi đều phải có bằng ngôn ngữ giảng dạy. Dùng tài liệu tiếng mẹ đẻ rồi giảng bằng ngoại ngữ tạo ra sự lệch khiến người học khó theo.
Điều kiện thứ tư: cơ chế đánh giá phù hợp. Cần tách rõ việc đánh giá kiến thức chuyên môn với việc đánh giá năng lực ngôn ngữ. Nếu không, người học giỏi chuyên môn nhưng yếu ngôn ngữ sẽ bị điểm thấp vì lý do sai.
Quan hệ giữa chương trình song ngữ và quốc tế hoá
Hai thứ này không thay thế nhau nhưng hỗ trợ nhau, và thứ tự triển khai có ảnh hưởng.
Song ngữ hỗ trợ quốc tế hoá ở ba mặt. Nó tạo điều kiện cho người học tiếp cận tài liệu quốc tế. Nó là điều kiện cần cho việc tiếp nhận người học quốc tế. Và nó nâng năng lực đội ngũ, phục vụ mọi hoạt động hợp tác về sau.
Quốc tế hoá không đòi hỏi song ngữ ở mọi khâu. Nhiều hoạt động quốc tế hoá có giá trị cao mà không cần đổi ngôn ngữ giảng dạy: rà soát nội dung chương trình theo chuẩn quốc tế, đưa các nghiên cứu tình huống từ nhiều nước vào bài giảng, tổ chức dự án học tập chung với trường đối tác.
Thứ tự hợp lý. Với phần lớn nhà trường, nên bắt đầu bằng việc rà soát và cập nhật nội dung, song song với việc nâng năng lực ngoại ngữ của đội ngũ, rồi mới mở học phần dạy bằng ngoại ngữ khi đã đủ điều kiện.
Thứ tự ngược lại, tức mở chương trình song ngữ trước khi có đội ngũ, là nguyên nhân phổ biến của các chương trình chất lượng thấp.
Lộ trình xây dựng chương trình song ngữ
Với nhà trường quyết định triển khai, thứ tự dưới đây giảm được phần lớn rủi ro.
Giai đoạn một: đánh giá năng lực đội ngũ. Xác định chính xác bao nhiêu giảng viên có thể giảng dạy bằng ngoại ngữ ở mức chuyên môn, không phải mức giao tiếp. Cách đánh giá thực tế nhất là mời họ trình bày thử một nội dung chuyên ngành và trả lời câu hỏi.
Giai đoạn hai: chọn học phần khởi đầu. Nên chọn những môn ít phụ thuộc bối cảnh địa phương, có sẵn tài liệu quốc tế chất lượng, và do giảng viên có năng lực ngôn ngữ tốt nhất đảm nhận. Một tới hai học phần là đủ cho năm đầu.
Giai đoạn ba: chuẩn bị tài liệu và cơ chế đánh giá. Hoàn thành trước khi lớp đầu tiên bắt đầu, không vừa dạy vừa chuẩn bị.
Giai đoạn bốn: chạy thử và thu thập phản hồi. Khảo sát người học giữa kỳ, không chờ tới cuối kỳ mới biết vấn đề.
Giai đoạn năm: điều chỉnh rồi mới mở rộng. Sai lầm phổ biến là mở rộng nhanh khi lớp đầu tiên có vẻ ổn, trước khi kịp rút kinh nghiệm.
Song song với năm giai đoạn này, nhà trường nên duy trì chương trình nâng năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ, vì đây là ràng buộc quyết định tốc độ mở rộng về sau.
Đo hiệu quả bằng gì
Với chương trình song ngữ, ba chỉ số nên theo dõi.
Kết quả học tập chuyên môn của người học trong chương trình song ngữ so với chương trình thường. Nếu thấp hơn đáng kể, đó là dấu hiệu ngôn ngữ đang cản trở việc học.
Mức tiến bộ về năng lực ngôn ngữ chuyên ngành, đo bằng bài kiểm tra đầu vào và cuối chương trình.
Tỷ lệ hoàn thành. Tỷ lệ bỏ giữa chừng cao hơn hẳn chương trình thường là tín hiệu cần xem lại ngưỡng đầu vào hoặc phương án hỗ trợ.
Với quốc tế hoá, bộ chỉ số rộng hơn, gồm số hoạt động chung hoàn thành, số quan hệ hợp tác còn sống sau hai năm, và tỷ lệ người học có trải nghiệm quốc tế dưới bất kỳ hình thức nào.
Khi cần đối chiếu với bối cảnh chung, dữ liệu về ngôn ngữ giảng dạy và kết quả giáo dục giữa các hệ thống của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) là nguồn tham chiếu hợp lý.
Quốc tế hoá tại chỗ: hướng đi ít tốn kém
Với nhà trường chưa đủ điều kiện mở chương trình song ngữ, vẫn có nhiều việc tạo ra giá trị quốc tế hoá thật mà không cần đổi ngôn ngữ giảng dạy.
Đưa nghiên cứu tình huống từ nhiều nước vào bài giảng. Cùng một chủ đề chuyên môn, việc so sánh cách các hệ thống khác xử lý giúp người học có góc nhìn rộng hơn. Việc này thuộc thẩm quyền của giảng viên và không cần thủ tục gì.
Mời chuyên gia nước ngoài giảng trực tuyến. Một buổi một giờ, có phiên dịch nếu cần. Chi phí gần như bằng không nếu đi qua quan hệ chuyên môn sẵn có.
Tổ chức dự án học tập chung với lớp ở nước ngoài. Người học hai bên cùng làm một chủ đề trong vài tuần. Đây là hình thức tạo trải nghiệm quốc tế thật với chi phí thấp nhất.
Đưa tài liệu tham khảo quốc tế vào danh mục đọc, kèm hướng dẫn cách tiếp cận cho người học chưa quen.
Rà soát chuẩn đầu ra theo tham chiếu quốc tế, để biết chương trình của mình đang đứng ở đâu.
Năm việc này cộng lại tạo ra thay đổi thực chất về nội dung, trong khi việc mở học phần dạy bằng ngoại ngữ khi chưa đủ đội ngũ thường chỉ tạo ra hình thức. Đây cũng là lý do nên làm chúng trước, hoặc ít nhất song song, chứ không chờ tới khi có chương trình song ngữ.
Bốn sai lầm thường gặp
Gọi tăng giờ ngoại ngữ là chương trình song ngữ. Tạo kỳ vọng sai cho phụ huynh và dẫn tới khiếu nại.
Mở chương trình trước khi có đội ngũ. Kết quả là giảng viên đọc slide bằng ngoại ngữ rồi giải thích bằng tiếng mẹ đẻ, và người học không được lợi ở cả hai mặt.
Coi song ngữ là đích đến của quốc tế hoá. Dẫn tới việc dừng lại sau khi mở được vài học phần, trong khi phần nội dung chương trình vẫn không đổi.
Không có phương án hỗ trợ ngôn ngữ trong quá trình học. Đặt ngưỡng đầu vào rồi để người học tự xoay xở là cách đẩy rủi ro về phía họ.
Với các nội dung liên quan tới việc chuẩn đầu ra và kết quả học tập được công nhận ra sao khi hợp tác với cơ sở nước ngoài, khuôn khổ của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) là nguồn nên tham chiếu ngay từ khi thiết kế chương trình.
Tổng kết
Chương trình song ngữ nói về phương tiện giảng dạy; quốc tế hoá nói về nội dung, đội ngũ, quan hệ và cách vận hành. Đổi ngôn ngữ không tự động tạo ra quốc tế hoá.
Hai thứ hỗ trợ nhau, và thứ tự hợp lý là rà soát nội dung cùng nâng năng lực đội ngũ trước, mở học phần dạy bằng ngoại ngữ sau.
Và điều nhà trường nên làm ngay là nói rõ chương trình của mình đang ở mức nào, thay vì dùng một tên gọi tạo kỳ vọng cao hơn thực tế.
Bước tiếp theo
Hãy đếm chính xác hai con số: bao nhiêu học phần của Quý trường đang thực sự được giảng dạy bằng ngoại ngữ, và bao nhiêu giảng viên có thể đảm nhận việc đó.
Hai con số này thường nhỏ hơn nhiều so với ước lượng, và chúng là căn cứ thực tế để quyết định nên mở rộng hay nên đầu tư vào đội ngũ trước. Đếm bằng danh sách tên cụ thể, không đếm bằng ước lượng của phòng ban.