🔗 The M2W platform connects overseas and Vietnamese schools →🔗 Connect international and Vietnamese schools → 🎓 International recruitment — overseas schools, join now →🎓 International recruitment for schools → 🤝 School-to-school cooperation: student & teacher exchange, summer camps →🤝 School cooperation & joint programs → 🏫 Vietnamese schools — international cooperation, summer camps, joint programs →🏫 Vietnamese schools go international →

Hợp tác nghiên cứu chung giữa hai trường: bắt đầu từ đề tài nhỏ

June 21, 2026 17 min read By My Second World
Hợp tác nghiên cứu chung giữa hai trường: bắt đầu từ đề tài nhỏ

Hợp tác nghiên cứu chung là hình thức tạo ra giá trị bền nhất trong quan hệ giữa hai cơ sở giáo dục. Một công bố chung tồn tại lâu hơn mọi bản ghi nhớ, và quan hệ chuyên môn giữa hai nhóm nghiên cứu thường kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ lãnh đạo.

Nhưng đây cũng là hình thức khó khởi động nhất, vì nó đòi hỏi hai bên có năng lực chuyên môn tương thích và có người thực sự muốn làm.

Bài viết này nêu cách bắt đầu từ quy mô nhỏ, và những vấn đề cần thống nhất trước khi bắt tay.

Vì sao dự án lớn thường thất bại

Nhiều nhà trường bắt đầu bằng việc đề xuất một dự án nghiên cứu quy mô lớn, thường gắn với một nguồn tài trợ nào đó. Cách này thất bại phần lớn thời gian, vì bốn lý do.

Hai bên chưa biết cách làm việc cùng nhau. Khác biệt về nhịp làm việc, về cách trao đổi, về kỳ vọng đối với nhau chỉ lộ ra khi thực sự bắt tay. Với một dự án lớn, những khác biệt đó xuất hiện khi đã đầu tư nhiều.

Phụ thuộc vào nguồn tài trợ. Nếu đề xuất không được duyệt, quan hệ thường dừng lại, vì cả hai bên đều coi đó là điều kiện để bắt đầu.

Time chuẩn bị quá dài. Một đề xuất lớn cần nhiều tháng soạn thảo. Trong thời gian đó, nhiệt tình ban đầu nguội đi và nhân sự có thể thay đổi.

Rủi ro cao khi có trục trặc. Một dự án lớn gặp vấn đề giữa chừng để lại ấn tượng xấu và làm hỏng quan hệ.

Cách tiếp cận ít rủi ro hơn là bắt đầu từ một việc nhỏ có thể hoàn thành trong sáu tháng.

Select đề tài đầu tiên

Bốn tiêu chí cho một đề tài khởi đầu tốt.

Đủ nhỏ để hoàn thành trong sáu tháng. Mục tiêu của lần đầu không phải là kết quả khoa học lớn mà là chứng minh hai bên làm việc được với nhau.

Không phụ thuộc nguồn tài trợ bên ngoài. Nếu đề tài cần kinh phí lớn để bắt đầu, nó sẽ bị treo cho tới khi xin được tài trợ.

Tận dụng thế mạnh bổ sung của hai bên. Đề tài tốt là đề tài mà mỗi bên đóng góp được điều bên kia không có: dữ liệu, bối cảnh địa phương, phương pháp, hoặc thiết bị.

Có sản phẩm cụ thể. Một bài báo, một báo cáo, một bộ dữ liệu, hoặc một đề xuất nghiên cứu lớn hơn cho giai đoạn sau.

Một dạng đề tài đặc biệt phù hợp cho lần đầu là nghiên cứu so sánh: cùng một câu hỏi, thu thập dữ liệu ở hai bối cảnh, rồi phân tích khác biệt. Type này tận dụng đúng lợi thế của hợp tác quốc tế và không đòi hỏi thiết bị đặc thù.

Bắt đầu từ cá nhân, không từ tổ chức

Đây là điểm quan trọng và hay bị hiểu ngược.

Một quan hệ hợp tác nghiên cứu luôn bắt đầu từ hai người có cùng mối quan tâm chuyên môn, không từ hai tổ chức ký kết với nhau.

Hệ quả thực tế: cách hiệu quả nhất để khởi động không phải là ban giám hiệu chỉ đạo tìm đối tác nghiên cứu, mà là tạo điều kiện cho giảng viên gặp gỡ đồng nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực của họ.

Các kênh thực tế. Hội thảo chuyên ngành trực tuyến, mạng lưới cựu Study Abroad sinh, tác giả của những bài báo mà giảng viên đang đọc, và người từng hướng dẫn họ nếu có.

Kênh thứ ba đáng chú ý vì ít người khai thác. Việc viết thư cho tác giả một bài báo để trao đổi về nội dung là thông lệ bình thường trong giới học thuật, và tỷ lệ hồi đáp cao hơn nhiều so với thư ngỏ hợp tác gửi tới tổ chức.

Vai trò của nhà trường là hỗ trợ và chính thức hoá sau khi quan hệ chuyên môn đã hình thành, không phải tạo ra nó từ trên xuống.

Những gì cần thống nhất trước khi bắt đầu

Năm nội dung dưới đây nên được ghi lại bằng văn bản, dù chỉ là một thư điện tử được cả hai xác nhận.

Câu hỏi nghiên cứu và phạm vi. Cụ thể tới mức cả hai hiểu giống nhau.

Phân chia công việc. Ai làm phần nào, và mốc thời gian cho từng phần.

Dữ liệu. Ai thu thập, lưu ở đâu, ai được truy cập, và sau khi kết thúc thì xử lý thế nào.

Tác quyền. Thứ tự tác giả, ai là tác giả contact, và tiêu chí để một người được đứng tên. Phần này sẽ nói riêng ở mục dưới.

Nơi công bố dự kiến. Không cần chốt cứng, nhưng cần thống nhất định hướng, vì nó ảnh hưởng tới cách viết và tới yêu cầu về dữ liệu.

Việc ghi lại năm nội dung này mất khoảng một giờ và phòng ngừa được phần lớn tranh chấp về sau.

Vấn đề tác quyền

Đây là nguyên nhân phổ biến nhất khiến các hợp tác nghiên cứu đổ vỡ, và nó thường phát sinh ở giai đoạn cuối khi công việc đã gần xong.

Thống nhất từ đầu, không để tới lúc viết bài. Khi đã có kết quả, mọi cuộc thảo luận về tác quyền đều mang tính tranh giành.

Dùng tiêu chí rõ ràng. Nhiều lĩnh vực có thông lệ về việc ai xứng đáng đứng tên: đóng góp vào thiết kế nghiên cứu, vào thu thập hoặc phân tích dữ liệu, vào việc viết bài, và chịu trách nhiệm về nội dung.

Nêu rõ thứ tự tác giả. Ý nghĩa của thứ tự khác nhau giữa các lĩnh vực, nên cần thống nhất theo thông lệ của lĩnh vực cụ thể.

Ghi nhận cả những người không đứng tên. Người hỗ trợ thu thập dữ liệu hoặc góp ý về phương pháp nên được cảm ơn trong bài.

Dự trù trường hợp có người rút. Nếu một người không hoàn thành phần việc của mình, tên họ có còn trong danh sách không.

Điểm cuối cùng nghe khó nói ra ở giai đoạn đầu, nhưng chính vì vậy mà nên nói khi mọi người còn thoải mái.

Khác biệt về cách làm việc

Hai nhóm nghiên cứu ở hai hệ thống khác nhau thường có khác biệt đáng kể mà không ai nêu ra.

Nhịp phản hồi. Một bên có thể quen trả lời trong ngày, bên kia quen trả lời trong tuần. Không bên nào sai, nhưng nếu không thống nhất kỳ vọng thì cả hai đều thấy bên kia thiếu nghiêm túc.

Mức độ trực tiếp khi góp ý. Ở một số nền văn hoá học thuật, phê bình thẳng thắn là dấu hiệu tôn trọng. Ở nơi khác, cách đó bị coi là thiếu tế nhị.

Cách ra quyết định. Một bên có thể quen bàn bạc tới đồng thuận, bên kia quen để người phụ trách quyết.

Kỳ vọng về vai trò của người học. Sinh viên cao học tham gia ở mức nào, được đứng tên hay không.

Cách xử lý đơn giản nhất là nói thẳng về những khác biệt này trong buổi làm việc đầu tiên, thay vì để mỗi bên tự suy đoán rồi hiểu nhầm động cơ của nhau.

Từ đề tài nhỏ tới hợp tác nghiên cứu chung lâu dài

Nếu đề tài đầu tiên hoàn thành tốt, ba bước tiếp theo là tự nhiên.

Bước một: công bố và cùng trình bày. Việc hai bên cùng xuất hiện tại một hội thảo củng cố quan hệ và mở ra contact mới.

Bước hai: mở rộng phạm vi. Thêm người tham gia từ mỗi bên, hoặc mở rộng câu hỏi nghiên cứu.

Bước ba: xin tài trợ cho dự án lớn hơn. Đến lúc này, đề xuất có sức thuyết phục hơn nhiều vì đã có kết quả chung để dẫn chứng.

Thứ tự này ngược với cách nhiều nhà trường làm, nhưng tỷ lệ thành công cao hơn hẳn.

Song song, nhà trường nên chính thức hoá quan hệ ở mức phù hợp: đưa vào danh sách hợp tác, ghi nhận trong báo cáo, và tính thời gian nghiên cứu chung vào định mức công việc của giảng viên.

Điểm cuối cùng quan trọng: nếu hợp tác nghiên cứu bị coi là việc làm thêm ngoài giờ, nó sẽ chỉ duy trì được nhờ nhiệt tình cá nhân và sẽ dừng khi người đó bận.

Khi cần đặt hoạt động nghiên cứu vào bối cảnh so sánh giữa các hệ thống, dữ liệu của Organizations Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cung cấp tham chiếu chung.

Với các nội dung related tới công nhận kết quả học tập nếu hợp tác có sự tham gia của người học, khuôn khổ của Organizations Education, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) nên được tham chiếu.

Vai trò của người học trong hợp tác nghiên cứu

Một khía cạnh thường bị bỏ qua nhưng tạo ra giá trị kép.

Sinh viên cao học và nghiên cứu sinh tham gia vào đề tài chung nhận được nhiều thứ: kinh nghiệm làm việc quốc tế, quan hệ chuyên môn, và trong nhiều trường hợp là cơ hội được đứng tên trong công bố.

Về phía nhà trường, đây là một hình thức quốc tế hoá tại chỗ với chi phí gần bằng không, và nó chạm tới đúng nhóm người học có khả năng đi xa trong chuyên môn.

Ba điều cần thống nhất khi có người học tham gia. Phạm vi công việc của họ. Tiêu chí để được đứng tên. Và ai là người hướng dẫn trực tiếp ở mỗi bên.

Điều thứ ba quan trọng vì người học dễ rơi vào tình trạng nhận chỉ dẫn khác nhau từ hai phía, và khi đó họ là bên chịu thiệt.

Summary

Hợp tác nghiên cứu chung tạo ra giá trị bền nhất nhưng nên bắt đầu từ một đề tài đủ nhỏ để hoàn thành trong sáu tháng, không phụ thuộc tài trợ bên ngoài.

Quan hệ luôn bắt đầu từ hai cá nhân có cùng mối quan tâm chuyên môn, nên vai trò của nhà trường là tạo điều kiện và chính thức hoá, không phải chỉ đạo từ trên xuống.

Và vấn đề cần thống nhất kỹ nhất từ đầu là tác quyền, vì đây là nguyên nhân phổ biến nhất khiến các hợp tác đổ vỡ ở giai đoạn cuối.

Bước tiếp theo

Hãy hỏi tổ chuyên môn của Quý trường một câu: có ai đang đọc bài báo của một tác giả nước ngoài mà thấy hướng nghiên cứu gần với việc mình đang làm không.

Nếu có, hãy khuyến khích họ viết một thư trao đổi chuyên môn. Đây là cách khởi động hợp tác nghiên cứu có tỷ lệ thành công cao nhất và không tốn chi phí nào.

Vai trò của nhà trường ở bước này chỉ là khuyến khích và ghi nhận. Nếu một contact như vậy dẫn tới đề tài chung, khi đó mới cần tới các thủ tục chính thức, và lúc đó việc chính thức hoá sẽ dễ dàng hơn nhiều vì đã có nội dung cụ thể để đưa vào văn bản.

Thứ tự này giúp tránh được tình trạng ký thoả thuận nghiên cứu rồi mới đi tìm người thực hiện. Tình trạng đó khá phổ biến và gần như luôn dẫn tới một văn bản không có hoạt động nào phía sau. Trong khi đó, một đề tài nhỏ do hai người thực sự muốn làm thường tự nó dẫn tới thoả thuận chính thức.

Related articles

Need advice on the right immigration pathway?

Leave your details and an M2W specialist will contact you for a free consultation within 24 working hours.

Join the platform